Thảo Quả:
Thảo quả có công dụng táo thấp mạnh, trừ hàn, tán ứ, giảm sưng. Trị sốt rét: dùng với Thường sơn, Tri mẫu, Sài hồ
Tên dùng trong đơn thuốc: Thảo quả,Thảo quả nhân, ổi Thảo quả (Thảo quả nướng)
Tên khác: Thảo ô
Tên Latin: Fructus Amomi Tsaoko
Tên Pinyin: Caoguo
Tên tiếng Hoa: 草果
Hoạt chất: 1,8 cinole, trans-2-vudecnol
Phần cho vào thuốc: Quả
Bào chế: Lấy bột mỳ nhào dẻo bọc lại nướng chín , vỏ lấy nhân mà dùng.
Tính vị quy kinh: Vị cay, tính ôn, vào hai kinh tỳ, vị
Công dụng: táo thấp, trừ hàn, trừ đờm, cắt cơn sốt rét(triệt ngược):
Chủ trị: Chữa bụng trướng nôn mửa, trừ sơn lan ở chướng khí, đặc biệt càng có hiệu quả đối với chứng sốt rét chướng khí lệ khí (chứng sốt rét do cảm nhiễm độc tà nơi rừng sâu nước độc và dịch khí) .
Ứng dụng và phân biệt:
1- Thảo đậu khấu, Thảo quả là hai vị thuốc hơi có chỗ khác nhau. Ngày nay tỉnh Phúc – Kiến trồng đậu khấu to như quả nhãn, nhưng hình hơi dài vỏ vàng phớt, mỏng mà – những canh nhô lên, nhân ở trong như hột Sa nhân, có mùi cay thơm, gọi là Thảo đậu khấu. Tỉnh Vân – nam trồng thảo quả, to như quả kha tử, vỏ đen dày, các đường gần liền nhau, nhân bên trong thô và cay hắc lên như mùi con Ban miêu.
2- Thảo đậu khấu chủ yếu chữa về vị yếu nôn mửa, ngực bụng đầy đau. Còn Thảo quả chủ yếu chữa về hàn thấp khí uất, sốt rét do chướng khí, dịch khí.
Kiêng kỵ: Nếu chứng sốt rét không do Sơn lam chướng khí, khí không thực, tà không thịnh và không có hàn thấp thì kiêng dùng.
Liều lượng: Một đồng cần đến hai đồng cân.
Bài thuốc ví dụ: Bài Quả phụ thang(Tế sinh phương) chữa khí hư nhược, tỳ hàn, chứng sốt rét nóng ít rét nhiều hoặc chỉ có rét mà không nóng, hoặc đại tiện lỏng tiểu tiện nhiều, không ăn được. Thảo quả, Phụ tử chế, Sinh Khương, Hồng Tảo, cho ba bát (chén to) sắc lấy một bát, uống ấm.